Từ cái chết của những cây cầu

1458656431-sap-cau

Có những dòng sông đang chết, và những cây cầu cũng đang chết. Và có nhiều cái chết đang đi ngang trước mắt của đám đông, nhưng không phải lúc nào cũng có người ngả nón chào tiếc thương.

Câu chuyện cây cầu Ghềnh ở Đồng Nai bị sập, một cây cầu nối dài ký ức lịch sử về thời kỳ phát triển khởi đầu của miền Nam, nhắc cho rất nhiều người biết nghĩ rằng không chỉ có cầu Ghềnh, mà có rất nhiều thứ đang mất dần trên đất nước này. Danh sách rất dài. Chủ tịch Hiệp hội Vận tải thủy nội địa Việt Nam Phạm Minh Nghĩa cho biết là khắp nước đều có những cây cầu đang có nguy cơ sập vì không được gia cố, chăm sóc. Trong đó có những cây cầu quen thuộc ở miền Bắc như Cầu Quay (Hải Phòng), Cầu Đuống (Hà Nội)…

Báo Pháp luật dẫn lời ông Trần Văn Thọ – Phó Cục trưởng Đường thủy nội địa Việt Nam – cho biết rằng trên các tuyến sông quốc gia hiện có hơn 100 trong số 500 cây cầu mà nhà nước quản lý đang không còn ở trong tình trạng thông thuyền an toàn nữa.

Cũng cần nên nhớ rằng mọi thứ rồi sẽ già cỗi và hư hỏng, nhưng sẽ nhanh chóng và hiển nhiên, một khi chúng đã bị bỏ mặc theo thời gian, không được đoái hoài, hoặc cố ý làm ngơ.

Rất nhiều cây cầu đã sống cùng với những đời người Việt, trở thành chuyện kể, trở thành tên gọi của vùng đất… Nhưng mọi thứ thì đang hoang phế, tàn tạ dần. Nhiều năm qua, Việt Nam đã thành công rất nhiều trong việc bỏ ra những ngân sách lớn để xây các khu chung cư cao cấp rồi bỏ hoang, dạt biển để xây resort, lấn cả sân bay để tạo sân golf… Mọi thứ thật tốn kém, và cả hoang phí, nhưng không có kế sách nào lâu dài về tôn tạo, để giữ gìn những gì đang có.

 

Những người sống ở Sài Gòn vẫn còn thắc mắc về chuyện tượng đồng tướng Trần Nguyên Hãn, có tuổi đời hơn nửa thế kỷ, từng đứng ở giữa trung tâm chợ Bến Thành, bị bỏ phế cho đến khi rụng cả một chân. Mọi thứ cứ như vậy, cho đến khi có dự án xây metro thì tượng bị bứng đi, bỏ vất vưởng đâu đó. Trường THPT Châu Văn Liêm ở Cần Thơ, có từ năm 1917 (tiền thân là Collège de Can Tho với kiến trúc Pháp) nếu không có tiếng kêu của công luận, chắc giờ này đã thành gạch vụn. Viện lý do là kiến trúc xuống cấp, những nhà quản lý đưa ra dự án mới, xây mới và dựng lên nguồn chi ngân sách mới. Không phải chỉ những cây cầu bị bỏ quên, mà có vô vàn những thứ thân thuộc và lâu đời cũng bị cố tình bỏ quên để có một cơ hội đập phá, mở ra những dự án mới.

Cũng là một cây cầu, nhưng số phận của cầu Dran (Đơn Dương, Lâm Đồng) còn thảm khốc hơn. Cây cầu sắt có độ cao đến 1.600m, làm nên tuyến đường sắt huyền thoại của châu Á đột nhiên bị gỡ bỏ làm sắt vụn. Nhà báo, nhà nghiên cứu về Dran, Đơn Dương là Nguyễn Hàng Tình từng cho biết trên thế giới chỉ có ba con đường sắt răng cưa như thế, nhưng hai đã nằm ở Jung – fraujoch và Montevers (Thụy Sĩ) và một ở VN. Con đường sắt răng cưa Tháp Chàm – Đà Lạt được lập dự án vào năm 1900, đến 1908 bắt đầu thi công, riêng đoạn có cây cầu Dran được xây dựng năm 1919 rồi hoàn thành vào 1925, nghĩa là nó gắn liền với lịch sử ban sơ hình thành Đà Lạt. Nhưng năm 2014, cây cầu này bị bí mật tháo dỡ, và chỉ được biết rằng sau đó nó bị bán đi, cho ai, làm gì thì không được biết.

Liên quan đến câu chuyện này, người viết còn được biết năm 1988-1989, Liên hiệp Đường sắt VN lấy hai chiếc đầu máy hơi nước hiệu Fuka (do Thụy Sĩ sản xuất – vào đầu thế kỷ 19, xưa nhất, để bán đi như phế liệu. Hai chiếc đầu máy xe lửa hơi nước đó vẫn được coi là kỳ quan, khỏi đầu của nền văn minh công nghiệp loài người, mà Việt Nam là nơi hiếm hoi còn giữ được cho đến lúc đó.

Thật không khác gì những đứa trẻ lớn lên trên chính quê hương mình, hư hỏng và nông cạn, thật dễ dàng tìm thấy hôm nay, một lớp người thật năng động trong việc bỏ phế, đập bỏ… những kỷ niệm và di vật quý giá mà tổ tiên mình đã tạo dựng hàng tháng, hàng ngày. Thậm chí, người ta chứng kiến sự phá hoại đang diễn ra hối hả và quy mô, mà người dân như quá tuyệt vọng và bất lực nên chỉ còn biết thở dài.

Đi về miền Tây Việt Nam, chứng kiến những câu cầu mới, xây vội vã theo các dự án, nhưng giờ đây cũng vô dụng vì lòng sông đã cạn khô. Thật là một nghịch cảnh khi nghĩ đến những cây cầu khác đang quỵ xuống ở đâu đó, chìm dưới làn nước. Mà không chỉ là cầu, mà kỷ niệm và dấu vết văn minh của người Việt cũng đang chìm dần trong làn nước.

Nếu chúng ta không biết yêu quý những gì đã có. Chúng ta mải mê chạy theo những đại lộ xa xôi và sẵn sàng bỏ quên những thứ đã có, hoang phế và đạp đổ di sản của tổ tiên mình, thì không chỉ những cây cầu, dòng sông sẽ chết, mà cả niềm tin và hy vọng của chúng ta rồi cũng không còn.

Thật không khác gì những đứa trẻ lớn lên trên chính quê hương mình, hư hỏng và nông cạn, thật dễ dàng tìm thấy hôm nay, một lớp người thật năng động trong việc bỏ phế, đập bỏ… những kỷ niệm và di vật.

Có những dòng sông đang chết, và những cây cầu cũng đang chết. Và có nhiều cái chết đang đi ngang trước mắt của đám đông, nhưng không phải lúc nào cũng có người ngả nón chào tiếc thương.

Câu chuyện cây cầu Ghềnh ở Đồng Nai bị sập, một cây cầu nối dài ký ức lịch sử về thời kỳ phát triển khởi đầu của miền Nam, nhắc cho rất nhiều người biết nghĩ rằng không chỉ có cầu Ghềnh, mà có rất nhiều thứ đang mất dần trên đất nước này. Danh sách rất dài. Chủ tịch Hiệp hội Vận tải thủy nội địa Việt Nam Phạm Minh Nghĩa cho biết là khắp nước đều có những cây cầu đang có nguy cơ sập vì không được gia cố, chăm sóc. Trong đó có những cây cầu quen thuộc ở miền Bắc như Cầu Quay (Hải Phòng), Cầu Đuống (Hà Nội)…

Báo Pháp luật dẫn lời ông Trần Văn Thọ – Phó Cục trưởng Đường thủy nội địa Việt Nam – cho biết rằng trên các tuyến sông quốc gia hiện có hơn 100 trong số 500 cây cầu mà nhà nước quản lý đang không còn ở trong tình trạng thông thuyền an toàn nữa.

Cũng cần nên nhớ rằng mọi thứ rồi sẽ già cỗi và hư hỏng, nhưng sẽ nhanh chóng và hiển nhiên, một khi chúng đã bị bỏ mặc theo thời gian, không được đoái hoài, hoặc cố ý làm ngơ.

Rất nhiều cây cầu đã sống cùng với những đời người Việt, trở thành chuyện kể, trở thành tên gọi của vùng đất… Nhưng mọi thứ thì đang hoang phế, tàn tạ dần. Nhiều năm qua, Việt Nam đã thành công rất nhiều trong việc bỏ ra những ngân sách lớn để xây các khu chung cư cao cấp rồi bỏ hoang, dạt biển để xây resort, lấn cả sân bay để tạo sân golf… Mọi thứ thật tốn kém, và cả hoang phí, nhưng không có kế sách nào lâu dài về tôn tạo, để giữ gìn những gì đang có.

 tu cai chet cua nhung cay cau hinh anh 1

Hai nhịp cầu Ghềnh đã bị sà lan húc đổ xuống sông.                  ảnh: Tuổi trẻ

Những người sống ở Sài Gòn vẫn còn thắc mắc về chuyện tượng đồng tướng Trần Nguyên Hãn, có tuổi đời hơn nửa thế kỷ, từng đứng ở giữa trung tâm chợ Bến Thành, bị bỏ phế cho đến khi rụng cả một chân. Mọi thứ cứ như vậy, cho đến khi có dự án xây metro thì tượng bị bứng đi, bỏ vất vưởng đâu đó. Trường THPT Châu Văn Liêm ở Cần Thơ, có từ năm 1917 (tiền thân là Collège de Can Tho với kiến trúc Pháp) nếu không có tiếng kêu của công luận, chắc giờ này đã thành gạch vụn. Viện lý do là kiến trúc xuống cấp, những nhà quản lý đưa ra dự án mới, xây mới và dựng lên nguồn chi ngân sách mới. Không phải chỉ những cây cầu bị bỏ quên, mà có vô vàn những thứ thân thuộc và lâu đời cũng bị cố tình bỏ quên để có một cơ hội đập phá, mở ra những dự án mới.

Cũng là một cây cầu, nhưng số phận của cầu Dran (Đơn Dương, Lâm Đồng) còn thảm khốc hơn. Cây cầu sắt có độ cao đến 1.600m, làm nên tuyến đường sắt huyền thoại của châu Á đột nhiên bị gỡ bỏ làm sắt vụn. Nhà báo, nhà nghiên cứu về Dran, Đơn Dương là Nguyễn Hàng Tình từng cho biết trên thế giới chỉ có ba con đường sắt răng cưa như thế, nhưng hai đã nằm ở Jung – fraujoch và Montevers (Thụy Sĩ) và một ở VN. Con đường sắt răng cưa Tháp Chàm – Đà Lạt được lập dự án vào năm 1900, đến 1908 bắt đầu thi công, riêng đoạn có cây cầu Dran được xây dựng năm 1919 rồi hoàn thành vào 1925, nghĩa là nó gắn liền với lịch sử ban sơ hình thành Đà Lạt. Nhưng năm 2014, cây cầu này bị bí mật tháo dỡ, và chỉ được biết rằng sau đó nó bị bán đi, cho ai, làm gì thì không được biết.

Liên quan đến câu chuyện này, người viết còn được biết năm 1988-1989, Liên hiệp Đường sắt VN lấy hai chiếc đầu máy hơi nước hiệu Fuka (do Thụy Sĩ sản xuất – vào đầu thế kỷ 19, xưa nhất, để bán đi như phế liệu. Hai chiếc đầu máy xe lửa hơi nước đó vẫn được coi là kỳ quan, khỏi đầu của nền văn minh công nghiệp loài người, mà Việt Nam là nơi hiếm hoi còn giữ được cho đến lúc đó.

Thật không khác gì những đứa trẻ lớn lên trên chính quê hương mình, hư hỏng và nông cạn, thật dễ dàng tìm thấy hôm nay, một lớp người thật năng động trong việc bỏ phế, đập bỏ… những kỷ niệm và  di vật quý giá mà tổ tiên mình đã tạo dựng hàng tháng, hàng ngày. Thậm chí, người ta chứng kiến sự phá hoại đang diễn ra hối hả và quy mô, mà người dân như quá tuyệt vọng và bất lực nên chỉ còn biết thở dài.

Đi về miền Tây Việt Nam, chứng kiến những câu cầu mới, xây vội vã theo các dự án, nhưng giờ đây cũng vô dụng vì lòng sông đã cạn khô. Thật là một nghịch cảnh khi nghĩ đến những cây cầu khác đang quỵ xuống ở đâu đó, chìm dưới làn nước. Mà không chỉ là cầu, mà kỷ niệm và dấu vết văn minh của người Việt cũng đang chìm  dần trong làn nước.

Nếu chúng ta không biết yêu quý những gì đã có. Chúng ta mải mê chạy theo những đại lộ xa xôi và sẵn sàng bỏ quên những thứ đã có, hoang phế và đạp đổ di sản của tổ tiên mình, thì không chỉ những cây cầu, dòng sông sẽ chết, mà cả niềm tin và hy vọng của chúng ta rồi cũng không còn.

Advertisements

Khi chúng ta bị muôn trùng vây

han-han-o-dong-bang-song-cuu-long

Một người bạn kể lại rằng sự hoang mang người dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về nạn khô hạn và ngập mặn ngày càng nhiều.

Tại Sóc Trăng, người dân ở đây kể rằng nhiều gia đình đã tìm cách bán đất đai – dĩ nhiên là với giá rẻ rúng – để dời đi, tìm một nơi khác để sống sót tai ương ngay tại quê nhà của mình.

Không chỉ là người làm ruộng mới khổ sở, những người nuôi cá tại Trà Vinh đang vớt lên hàng loạt những con cá lóc bị ghẻ lở và chảy máu toàn thân do ao hồ bị ngập mặn. Các loại thuỷ sản nước ngọt đang giãy giụa tuyệt vọng trong sự kinh hoàng bất lực của nông dân.

Trên những chuyến đò, trên các chuyến xe liên tỉnh… Người ta đang râm ran nói về nơi mình đến – miền lục tỉnh bao la sông nước – nhưng giờ thì đang chết dần. Những vùng đất dồi dào sản vật của miền Nam có thể sẽ chỉ là chuyện kể như trong cổ tich.

Rõ là một quốc gia đang bị bao vây. Và bao vây một cách êm đềm vì người ta không nghe tiếng kêu cứu hay phản đối đúng mức cho sự sinh tồn của dân tộc mình.

Sự kiện ngập mặn hôm nay của ĐBSCL chỉ là hiện tượng tái diễn của năm 2015, nhưng lần này mức độ khốc liệt, ảnh hưởng đến hàng triệu người. Thế nhưng, chính uỷ ban Sông Mekong Việt Nam cũng “bao vây” người dân mình bằng những thông tin hết sức mù mờ và chủ quan về tác hại của đập thuỷ điện Trung Quốc.

Uỷ ban này được lập ra bằng tiền thuế của người Việt Nam, để phối hợp cùng ba nước khác, thuộc dòng hạ lưu sông Mekong là Lào, Thái Lan, Campuchia… để đối phó, cảnh báo tình hình có thể ảnh hưởng đến quốc gia.

Uỷ ban Sông Mekong Việt Nam thiếu khả năng, thiếu thông tin hay vô trách nhiệm với đất nước của mình? Không phải hôm nay chuyện ngập mặn, khô hạn mới được biết tới.

Từ năm 2011, tức năm năm trước, thế giới đã liên tục có những thông tin cảnh báo và kêu gọi Việt Nam hãy cẩn trọng về các dự án trên sông Mekong, bao gồm của Lào, Thái Lan, đặc biệt là các dự án trên thượng lưu, vùng Vân Nam của Trung Quốc.

Lạ lùng nhất, ở vị trí của mình, uỷ ban ấy lại rất điềm nhiên, thậm chí còn ra báo cáo, khẳng định vào tháng 10/2015: rằng những tác động từ đập của Trung Quốc là “tương đối nhỏ”.

Từ tháng 11/2011, trên tờ Deutsche Welle (DW) đã có một bài bình luận Mekong dams threaten food and security, nhắc rằng lưu vực sông khổng lồ này, với sự đa dạng sinh học chỉ đứng sau sông Amazon, đang bị đe doạ đáng sợ.

Việc làm khô hạn hay hạn chế dòng chảy của sông Mekong có thể làm ảnh hưởng đến lượng đánh bắt hàng năm, vào khoảng 15 triệu tấn (giá trị hàng tỷ USD) và làm cằn cỗi đời sống hai bên bờ.

Cơ quan WWF của Liên hiệp quốc dự kiến đến năm 2025, sẽ có 90 triệu người sống quanh đôi bờ sông này, trong đó 50% là sinh tồn bằng tự nhiên. Việc kiểm soát dòng chảy sẽ là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo và hỗn loạn.

Tháng 11/2015, tức chỉ mới đây, tờ Straits Times cũng kêu gọi sự quan tâm của các nước bằng phân tích cụ thể của cây viết chuyên về vùng Đông Dương Nirmal Ghosh, rằng tác dộng của các đập thuỷ điện đối với Việt Nam hết sức nghiêm trọng.

Độ nhiễm mặn sẽ tràn vào đất liền, vùng ĐBSCL, đe doạ nhiều vùng trồng lúa. Và rồi một phần bờ biển dài 600 km phía Nam Việt Nam bị mất dần, với tốc độ 4 – 12 m một năm.

Rõ ràng là cả thế giới đều biết, đều cùng chung sức tìm hiểu và nhắc nhở, nhưng chỉ có người dân, kẻ chịu nạn sớm và nhọc nhằn nhất, thì lại là người biết sau cùng. Họ đã bị bao vây khỏi sự hiểu biết vì lẽ gì?

Những câu chuyện như vậy, nhắc chúng ta nhớ lại những ngày Quốc hội Việt Nam được nhìn thấy với những đại biểu ngủ ngon trong nghị trường. Những đại biểu khác thì chơi game và nhiều lần Quốc hội tuyên bố về sớm vì không có gì để bàn.

Những người đại diện của nhân dân, cũng bao vây hiện tình đất nước của mình với nhân dân bằng sự rảnh rỗi và nhẹ nhàng.

Nó cũng nhắc chúng ta nhớ, suy nghĩ và sự minh bạch rộng rãi và cần thiết cho cuộc chiến 1979, cho Gạc Ma 1988, hay cho cuộc chiến mất đảo Hoàng Sa 1974, là điều quan trọng để người Việt thoát khỏi những vòng vây nhạt nhoà về lịch sử của chính mình.

Trong những vòng vây ấy, có những người dân cuống cuồng tự tìm một con đường sống sót cho mình, không muốn nghe những lời êm dịu và trấn an vô nghĩa như của uỷ ban Sông Mekong Việt Nam.

Có những người im lặng và cay đắng vì mình đã tin tưởng hết lòng. Trong những câu chuyện kể về Lý Sơn, người ta nói đã không còn nhìn thấy ông Mai Phụng Lưu – con sói biển vẫn luồn qua các con tàu Trung Quốc ở gần Hoàng Sa.

Có lẽ cũng đến lúc ông Lưu muốn lùi lại, giữ cho mình không là một biểu tượng quá rõ ràng về can đảm và liều lĩnh cho tổ quốc, trong khi các ông nghị vẫn gọi những cuộc tấn công vào ngư dân Việt Nam là “tàu lạ” hoặc mới mẻ và dè dặt hơn “được mô tả là tàu Trung Quốc”.

Không chỉ có những hiểm nguy bên ngoài đang bao vây đất nước. Mà ngay cả những ngôn luận mập mờ, sự vô trách nhiệm không bị truy xét, quan trọng hơn là những kẻ sành sỏi việc thụ hưởng quyền lợi cá nhân nhưng vô trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc, cũng là một loại trùng vây ngày đêm, đáng ghê sợ lúc này.

Và những kẻ bao vây, làm trì trệ sự hiểu biết, nhận thức và tinh thần của người dân Việt Nam, có phải là những người đáng bị xét là đang chống lại chính đất nước mình?