Về miền Tây

Lúc mới gặp, nó nhìn nhìn một lúc rồi hỏi “Chú ở Sài Gòn tới hả?”. Người miền Nam với nhau nhưng nhìn vô một cái áo, nhìn cái túi xách… là dân trong vùng có thể phân biệt được liền, ai ở đâu hay ai là người mới tới, nhất là cái kiểu mang ba lô đi lang thang, ngó ngang ngó ngửa như tôi.

Thiệt tình là mới gặp, nhìn nó cũng hơi ớn. Ngồi kế bên, nó cứ im im, nhịp chân trong cái quán nước từ sáng đến chiều chỉ có 1,2 người khách. Thỉnh thoảng nó liếc mình, loại quan sát mà lục hết những bài học về body language không hề có chương nào đoán được nó nghĩ gì.

Mà hơn nữa, nhìn qua thì thấy mình mẩy nó thì xâm nát hết, từ đầu cho tới chân. Ớn chứ sao không.

Dòm vô mấy cái hình xâm đủ thứ của nó, thấy có cái quen quen, mới cười cười hỏi nó “Cái này là hình gì vậy”. Nó không thèm nhìn mình, không cười, nói gọn lỏn “Thì là hình tòa án ở Sài Gòn”. Trời đất, nghe trả lời mà tản hồn. Thằng này chắc phải vào tù ra khám mới xâm hình kỷ niệm như vậy chớ gì nữa.

Vậy mà lát nữa, mọi suy nghĩ về nó trong tôi thay đổi hoàn toàn. Nó như một bài học về người miền Tây, mà cứ tới gần, chạm vào mới biết.

Chiều đó, rủ nó đi ăn hủ tíu, mới ngạc nhiên khi nghe nó từ chối “Con ăn chay mà chú”. Hóa ra nó ăn chay mấy tháng nay, để vái cho bà ngoại mau lành bệnh. Nó nói khi nào ngoại còn bệnh là nó còn ăn chay để cầu cho ngoại. “Nhiều lúc ngán quá, nhưng không dám bỏ chú, bởi vì lỡ vái cho ngoại rồi”, nó nhe răng cười. Lúc đó mới thấy thật ra bộ dạng chằng chịt của nó chỉ che con người thiệt, lành như đất.

“Vậy chú với mày ăn chay, kể như cho chú vái ké mày, cho ngoại mau lành”, tôi nói vậy. Thằng nhỏ giương mắt nhìn rồi lại cười “Được không chú? Ăn chay không có ngon như ăn mặn đâu nghe”. Đi một vòng chợ, xách ba bốn món chay về ăn cơm. “Giống nhà hàng quá chừng đó chú. Mấy tháng nay con ăn chay toàn mì gói không hà, chú chơi sang thiệt”. Thì vậy, hỏi sao nó không nhắc mình là ăn chay ngán lắm. 3,4 món đó chưa hết trăm ngàn, không bằng ít tiền lẻ người ta bo ở quán nhậu thành phố.

Tới lúc có vẻ quen biết thêm chút đỉnh, tôi bèn hỏi vì sao mày xâm hình tòa án. Nó giương mắt nhìn, ngạc nhiên “Ủa đẹp mà, cái đó là hình Sài Gòn cổ mà chú?” – Vậy thì đâu có tù tội gì. Còn chuyện xâm hết mình mẩy là do có cuộc thi tatoo. Một ông Tây hợp tác với nó, xâm nát mình thằng nhỏ để thi, rồi đoạt giải, chỉ vỗ vai nó “thanh kiu” sau đó biến mất với tiền thưởng. Hỏi nó có đi kiếm ông Tây đó đòi tiền không, nó cười “Dạ thôi, có cái hình Sài Gòn cổ là con vui rồi. Chắc ông Tây đó cần tiền mới vậy”.

“Chú thấy mày cũng đâu giàu có gì. Chớ mày phục vụ cho quán nước này lương lậu ra sao?” – “Lương gì đâu chú, con học tới lớp 3 hà, giờ đi phụ việc cho con nhiêu thì con lấy nhiêu thôi”. Cũng may mà chủ quán thương nó. Từ hồi về làm ở đây có vài tháng mà nó mập lù, quần áo chật hết.

Cho tới khi tôi leo lên xe đò đi tiếp, thằng nhỏ cứ ngồi kề bên. Nó cứ im im, nhịp nhịp chân nhìn ra lộ. Nó là người ở lại. Chắc nó có rất nhiều điều để kể nhưng lại không biết nói gì. Cái im im đó như đời sống của miền Tây Việt Nam. Nơi có hàng ngàn những con lộ như vậy xuyên qua ruộng đồng và ẩn tình xanh mướt. Miền Tây bao la hôm nay vẫn im nhìn cuộc đời đi qua như vậy, cùng văng vẳng tiếng nhạc sến hay cải lương từ đâu đó, như một loại vỏ bọc thanh thản, để giấu kín trong lòng mình những tâm tư bất tận.

Bài giáo khoa cũ

Bài học cũ, giản đơn nhưng dạy trẻ con biết hoài niệm, biết nghĩ về những gì đã có. Đọc lại một trang giấy nhỏ, đã cũ, đã bị phế bỏ, mà nghĩ rằng người viết chẳng có chức phận hay quyền hành gì, nhưng họ hành động như một người Việt buộc phải cẩn trọng trách nhiệm với trăm năm sau. Chỉ tự tâm niệm mà cẩn trọng.

Không cần phải có một tôn giáo hay lý tưởng vĩ đại nào, chỉ cần một tấm lòng học làm người, biết thương nhớ mẹ cha, đã là một công dân tử tế trên nước Việt.

“Con không cần phải khấn, vì hồn mẹ lúc nào cũng phảng phất bên con”. Thật ra, câu văn chỉ là một lời an ủi. Nhưng cảm động đến có thể rơi nước mắt. Lời dạy còn âm thầm nhắc rằng khi hành động bất kỳ điều gì, đều có một lương tâm truyền đời dõi theo và nhắc nhở. Nếu không có mẹ cha và người đi trước, thế hệ hôm nay dễ dàng trở thành hành động, suy nghĩ vô loài.

Chân thành với giáo dục không khó, nhưng cố gắng tạo dáng vẻ cho giống như giáo dục thì rất khó. Nhiều năm cải cách, gắng gượng thay đổi sách giáo khoa cho thấy một tương lai dân tộc rất mơ hồ: một hệ thống vật vã, gượng gạo tạo ra cái mới – rất giả tạo – bởi mang quá nhiều mặc cảm với cái cũ đã hoàn chỉnh từ một thể chế khác.

Sẽ chẳng ngạc nhiên, khi hôm nay, mọi thứ giả dối đang lên ngôi: Giả trí thức, giả văn bằng, giả học vị… và cuối cùng là giả làm một người yêu nước.

Học để làm gì

Câu hỏi đó chắc vẫn vang lên, vô thanh trong suy nghĩ nhiều người, khi trải qua các chặng cứu trợ hay từ thiện, nơi vô số các em nhỏ hay thanh niên nhọc nhằn với cuộc sống hàng ngày của mình, vật lộn với miếng ăn và tai ương ở miền Trung Việt Nam.


Khi ghé qua hỏi han về gia cảnh, nhiều người đã bối rối thú nhận rằng con cái của họ đã bỏ học từ lớp 4 hay lớp 5. Lý do là để phụ giúp gia đình, hoặc nghỉ học vì đến trường, có chữ thêm, không biết để làm gì.

“Phụ giúp”, là kiếm ít củi, trông em, sai vặt… nếu giỏi hơn thì có thể nhận việc ở đâu đó, kiếm được chút tiền cho bữa cơm chiều.


Con đường dẫn ra các vùng Bắc Trung Bộ xa xôi, được biết chuyện có nơi nhiều em nhỏ xin nhận giỏ đeo gạch đi bằng lối mòn đến nơi đang xây dựng trên cao, dài có khi đến 2-3 cây số, để nhận 10.000 đồng một chuyến. Nhưng kinh khủng hơn, ở Đồng Văn, Hà Giang, có chuyện những em cõng hơn 30kg gạch đi vài cây số, chỉ được 2000 đồng/chuyến. Sức chịu các em như vậy, mỗi ngày đi được 3 chuyến.


Nói chuyện với một bà cụ ở làng Húc, Quảng Trị, bà kể cho biết hầu hết cuộc sống của những người trong vùng đều là tự cung tự cấp. Do đó, trẻ con phải tham gia giúp gia đình là đương nhiên. Việc buộc gia đình phải chu cấp cho mình một chút tiền đi học là một điều quá xa xỉ ở những nơi như vậy.


“Như năm nay bão lụt liên tục thì mình làm sao để sống?” – bà cụ nói – “thì mình đi mượn gạo để ăn rồi năm sau ráng làm để trả lại”.


Nhưng, không hề có nghĩa là năm sau, họ có thể dư dả và trả được, nên khi những món nợ sống còn như vậy chồng chất, 100 ngàn đồng (khoảng 4 USD) để chi phí tiền học cho một năm trở thành điều quá lớn đối với một đứa bé ở đây.
Vậy nên, mỗi khi có chuyến cứu trợ hay từ thiện nào về, giống như ngày hội. Thức ăn, quần áo là niềm vui, những thứ để được tiếp tục học hành lại càng lớn lao hơn. Có những nơi, trẻ em đi cùng người lớn từ 4-5 giờ sáng, háo hức đến chờ nhận chút quà, mà giá chỉ bằng một bữa nhậu con ở đô thị.


Một gia đình nghèo khó ở Quảng Bình, ở nơi chịu các trận bão lụt vừa rồi, có lúc nước dâng cao đến 4 mét, được mọi người trong vùng giới thiệu, kể rằng đó là một gia cảnh nghèo khó nhất: nhà chỉ 3 mẹ con, bà mẹ bị tai biến, hai đứa con gái thì còn nhỏ, đang đi học. Nghe hướng dẫn của cán bộ trong làng, họ đi xin trợ cấp hộ nghèo, nhưng rồi sau 3 năm, việc giúp đỡ hộ nghèo cũng bị cắt, bởi cán bộ xác định là gia đình này “vẫn cứ nghèo hoài”, nên không được giúp nữa. Khi hỏi thêm mới hay, nguồn trợ cấp này bị xà xẻo theo kiểu nào đó, mà mỗi năm, họ chỉ nhận được có 200 ngàn đồng vào dịp tết âm lịch. Đứa con gái lớn, nhận được giấy báo trúng tuyển 2 trường đại học, nhưng rồi phải từ bỏ ước mơ và nghĩ đến chuyện đi làm công kiếm sống.


Chắc rằng, tôi hay các bạn, ai cũng sẽ trĩu nặng những suy nghĩ riêng, khi đối diện với những câu chuyện như vậy, mặc dù vẫn phải cười.
Những hình ảnh và video của anh chị em trong nhóm thiện nguyên Có Mặt Cho Nhau góp gửi về, cho thấy người đi đến nơi trao thật khó nhọc, nhưng để đi đến nhận lấy, cũng không kém. Có những đứa trẻ vừa nhận được phần của mình, đã mở vội những những quyển tập và quà trong chương trình Triệu Quyển Tập Cho Em, xuýt xoa với giấy trắng mà thương.


Con đường dài từ Huế đến Quảng Trị, Quảng Bình… là những dữ liệu dồn nén cho câu hỏi những đứa trẻ Việt Nam học để làm gì? Ngay cả ở những giáo xứ Công giáo tử tế, trẻ em được khuyến khích học đến hết cấp 2 hoặc cấp 3, mọi thứ lại tiếp tục bế tắc ở mức độ cao hơn: chúng làm gì có đủ tiền để ra thành phố lớn học đại học?


Ở các thành phố lớn, nơi con cái của những gia đình đầy đủ vẫn phải đang kêu gào và vật vã về chuyện sách giáo dục cứ đầy đoạ tinh thần trẻ em, thì vạn nơi khó khăn tiếp cận với con chữ như vậy, những đứa trẻ khác sẽ học như thế nào?


Dĩ nhiên, hỏi chỉ là một cách để tự vấn lương tâm về sự bất lực của những đứa trẻ và của chính bản thân mình trước một thế giới đẹp đẽ nhưng đầy ảo ảnh. Chắc rồi ai cũng sẽ có câu trả lời riêng cho bản thân mình. Nhất là khi nhìn vào thế giới sống của chúng ta – nơi đầy những câu chuyện như quan chức dùng tiền bằng cả những ngôi trường lớn hay khu nhà cứu nạn để mua quốc tịch nước ngoài cho bản thân mình – họ im lặng đào thoát khỏi một quê hương nghèo khó, nơi bị giới cầm quyền – bạn bè của họ – rất ung dung chi xài sai, thâm lạm đến hơn 55 ngàn tỷ đồng/năm từ tiền thuế.


Và ngay cả những người dù không ra đi nhưng nhà cao cửa rộng bất thường, dù được trang trí với nhiều bằng cấp hay chức vụ, nhưng trong những giờ phút riêng tư, chắc họ cũng mỉm cười và nói với nhau rằng “học để làm gì”.