Nhân phẩm bị lợi dụng

Anh bạn người Việt gốc Hoa kể lại cho tôi nghe chuyến đi “bán chính thức” kinh hoàng của anh vào đầu năm 80. Dù nhiều năm định cư và thành đạt ở Pháp, ký ức như chưa hề mờ nhạt trong lời kể của anh.

Những năm tháng đó, người Việt gốc Hoa giật mình khi thấy mình không thuộc về nơi đâu trên thế giới này. Bắc Kinh mở chiến dịch nạn kiều để tạo làn sóng bất ổn trong Việt Nam. Còn Hà Nội thì cũng muốn tống khứ bớt đạo quân thứ năm của Trung Quốc – theo quan điểm của nhà cầm quyền – đồng thời cũng kiếm được không ít tiền của từ người bỏ ra đi.

Người Hoa không thể quay về quê quán bởi nơi đó cộng sản là bạo quyền, và họ ra đi, vì nơi chốn hiện tại, cộng sản cũng đang cầm quyền.

Nhưng trong lời kể của anh bạn Việt kiều gốc Hoa đó, điều anh cay đắng, là con người luôn bị lợi dụng. Đặc biệt trong chế độ độc tài, con người luôn bị biến thành đinh ốc, biến thành bánh răng để chở đẩy cho cỗ máy phi nhân tính.

Nhưng ghê tởm nhất, họ luôn tự gọi mình là chính quyền nhân dân.

Năm 79, thế kỷ 20, Hà Nội kêu gào, buộc nhân dân phải đứng lên ngồi xuống, gọi Trung Quốc là kẻ thù. Thậm chí viết vào sách giáo khoa, lập bảo tàng tội ác… nhưng rồi đến thập niên 90, họ tự xé sách, tổ chức vui tình hữu nghị với Trung Quốc, buộc nhân dân phải gọi hai đảng cộng sản là “bạn vàng”, buộc các bà mẹ liệt sĩ phải im lặng, ngay khi nén nhang cho liệt sĩ 6 tỉnh phía Bắc còn chưa tàn.

Đầu thế kỷ 21, khi cuộc sống của người dân Việt Nam không còn là một cái nồi đóng nắp kín, tin tức về âm mưu lấn chiếm Việt Nam và ngư dân chết trên biển xuất hiện mỗi lúc càng nhiều. Trung Quốc hiện nguyên hình là một con ác quỷ và không có bạn bè keo sơn nào trên thế giới này, ngoài trừ Việt Nam.

Như một câu chuyện cổ tích về những loài thủy quái trên đại dương, nhưng khác biệt ở đây cả thế giới đều biết rõ con thủy quái đó là gì. Thế nhưng Hà Nội chưa bao giờ dừng lại việc hiến tế ngư dân của mình trên biển, cho con thủy quái đó, bằng cách luôn luôn đẩy họ ra biển để chứng minh “chủ quyền Việt Nam”. Như một loại bùa mê áp đặt, Hà Nội phát cho ngư dân những lá cờ, và để mặc cho công dân của đất nước mình bị đâm tàu trên biển, bị bắt, bị cướp, thậm chí bị giết. Trong khi ngư dân sợ hãi và cố gắng đi xa hơn vào vùng biển của những nơi khác để kiếm sống, thì Hà Nội lại ra những đạo luật phạt nặng tất cả những ai bỏ chạy, không đi vào vùng biển có cái chết chờ sẵn đó.

Những năm tháng nguy nan nhất, đau đớn nhất cho ngư dân, truyền thông tay sai của Hà Nội đẩy mạnh việc lợi dụng con người bằng việc ca ngợi những gương sáng liều chết như anh Mai Phụng Lưu – con sói biển – đi vào Hoàng Sa. Yêu nước như một đơn thuốc liều chết, được phát một cách rộng rãi cho ngư dân, trong chính sách ngoại giao giữ gìn Hòa Bình của Hà Nội với Bắc Kinh.

“Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?…”, ngày 8 tháng 12, năm 2015, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói như vậy, trong cuộc tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, Hoàn Kiếm (Hà Nội), tổ bầu cử số 1, để báo cáo kết quả kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII.

Năm 2015, cũng là một trong những năm cao điểm mà tàu của Trung Quốc hành hạ ngư dân Việt Nam trên Biển Đông. Hơn 20 tàu chính thức báo cáo là đã bị đâm, bắn, cướp… dã man hơn năm trước. Mộ gió của miền Trung Việt Nam cũng nhiều hơn. Máu của ngư dân nhuộm đỏ nỗi uất hận của người Việt, đỏ như phông màn của đại hội.

Giờ thì đến anh Mai Phụng Lưu cũng đã quá mệt mỏi và sợ hãi, để có thể liên tục đi vào vùng biển đầy chết chóc đó, cho dù có được phát nhiều lá cờ, và các loại bằng cấp tán dương của bọn cầm quyền thích ngồi trên bờ. Ai rồi cũng nhận ra rằng mình đang bị lợi dụng, lòng yêu nước của mình đang bị lợi dụng. Cái bánh vẽ khổng lồ được chia đều cho khắp mọi nơi, nhưng nhồm nhoàm thật, chỉ có một ít người.

Thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông có kể rằng, ông nghe nói mỗi khi có những hành động lấn lướt của Bắc Kinh thì Hà Nội hay triệu tập những thành phần cơ bản để hội ý về vấn đề đối phó. Năm 2014, thì Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam, những người được hội ý, bí thế, nên đã chọn giải pháp đưa thông tin đến người dân và bật đèn xanh cho những cuộc biểu tình lớn nhằm gây áp lực quốc tế với Trung Quốc. Nhưng cũng với tinh thần tương tự đối với quê hương, tổ quốc được khơi dậy như vậy, hàng ngàn người Việt đã bị Hà Nội cho đánh đập, kết án, bỏ tù, sách nhiễu… từ năm 2015 cho đến nay.

Năm 2019, khi nhóm tàu thăm dò Hải Dương Địa Chất 8 của Trung Quốc tiến vào thềm lục địa Việt Nam, Hà Nội cũng đã hội ý và dường như sớm nhận ra rằng, cần phải kìm giữ thông tin và không thể bật đèn xanh biểu tình mạnh mẽ như năm 2014. Bởi họ nhận ra rằng sự phản bội với thực tế, chà đạp lên lòng yêu nước qua việc níu kéo mối quan hệ của hai đảng, bất chấp dân tộc và tổ quốc, có thể khiến mọi thứ bùng nổ – không phải với chỉ Bắc Kinh – mà với cả Hà Nội.

Tôi hỏi anh bạn Việt kiều gốc Hoa, là vì sao bây giờ đã là một công dân của quốc gia khác, thong dong hơn, sao anh không về ở Việt Nam sống. Anh không giải thích nhiều, mà chỉ cười, nói đơn giản rằng “về cũng chỉ để bị lợi dụng mà thôi”. Anh chỉ là một con người bình thường và yêu thương nơi mình đã được sinh ra, đã lớn lên. Nhưng phẩm giá tối thiểu của một con người bình thường, vẫn là không muốn bị lợi dụng.

Chỉ là biết trước hoặc biết sau. Chỉ là biết khi đang còn sống hoặc đang nằm dưới những nấm mồ được gắn huy chương. Tất cả chúng ta rồi cũng nhận ra rằng trong một chế độ độc tài, nhân dân mãi mãi là phía bị lợi dụng với những ngôn ngữ mỹ miều. Chế độ độc tài có thể hy sinh xương máu con người, tài nguyên, đất đai… Thậm chí có thể buộc cả dân tộc trở thành một loại con tin để duy trì sinh mệnh chính trị, mà họ tự sơn phết lên hai chữ nhân dân.

Cũng có thể rồi ngày nào đó, sẽ có những cuộc biểu tình rầm rộ do nhà nước phát động để chống Trung Quốc. Báo chí và truyền hình sôi động đã không khác gì như một ngày hội theo nghị quyết. Vào lúc ấy bạn cũng đừng quên lắng nghe, để thấy trong sự ồn ào ấy, là cả không gian chết lặng âm thầm của phẩm giá một dân tộc bị lợi dụng đến tận cùng.

Thật bối rối, nhưng rồi chúng ta, một dân tộc phải làm sao?

Chúng ta vẫn sẽ không từ chối bổn phận làm người Việt Nam. Bởi đất nước này, quê hương này của người Việt chứ không phải của đảng Cộng sản. Nên chúng ta sẽ không tha thứ cho bất kỳ kẻ xâm lược nào. Và bên cạnh đó, chúng ta cũng không bao giờ ngủ quên trước sự lợi dụng của bọn độc tài đối với con người và đất nước này. Đó là phẩm giá của một người Việt tự do, không nô lệ cho bất kỳ ai, bất kỳ âm mưu chính trị nào.

Advertisements

Chia tay người gieo mầm hy vọng

Sáng sớm 26/6/2019, nghe nhà giáo Phạm Toàn qua đời. Mới thấy mọi thứ là lẽ đương nhiên của tạo hóa, rồi thấy nỗi buồn nở một đóa hoa trong khu vườn ký ức của mình.

Vài năm trước, khi gặp ông. Vừa nhìn mặt, ông hỏi ngay “Tuấn Khanh phải ông?”, nói xong ông ôm chặt, rồi bỗng nhiên ông khóc.

Lúc ấy tôi ngỡ ngàng, bác Vũ Sinh Hiên đứng cạnh tôi, cũng ngỡ ngàng, rồi bác cười “ừ, thế đấy, thế đấy”.

Ông lau nước mắt, rồi cười, nói xin lỗi vì xúc động quá. Cho đến ngày ông mất, tôi vẫn chưa bao giờ có thể giải thích được vì sao ông lại xúc động đến như vậy. Chỉ nhớ lúc đó, ông quay sang bác Vũ Sinh Hiên, nói như giải thích “Chúng ta cần con người, đất nước này cần con người, anh à”. Bác Hiên, một nhà chép sử Công giáo Độc Lập cũng cười, gật gù “qui, qui…”.

Thật ra buổi gặp đó cũng cho tôi một niềm xúc động kỳ lạ. Bởi tôi được chứng kiến hai con người với tuổi tác đi cùng trời đất, không mang gì theo mình ngoài ước muốn cho một đất nước có những con người. Nếu gọi họ là những học giả thì cũng là xứng đáng, vì cả đời những con người ấy luôn mải mê đi tìm làm sao để chấn hưng đất nước, làm sao để có được những con người với sự thật, giữa bóng tối mênh mông của nền tuyên truyền cộng sản. Họ, những học giả của nhân dân, học giả của thuyết hy vọng.

Lúc đó, ông Phạm Toàn đang chuẩn bị để cho ra mắt những cuốn sách giáo khoa đầu tiên của nhóm Cánh Buồm. Ông dành rất nhiều thời gian cho buổi gặp mặt đó, để nói một cách mê say với tôi về những điều ông sẽ làm. “Chúng ta sẽ xây lại từ những gì mà chủ nghĩa cộng sản đã phá nát các thế hệ trên đất nước này”, ông nói và nhìn tôi, như sợ tôi không tin, “khó đấy, nhưng sẽ rồi làm được”.

Không lâu sau đó tôi thấy những tập đầu tiên của bộ sách giáo khoa Cánh Buồm ra đời. Tôi cũng được biết rằng ông đã phải đánh vật không biết bao nhiêu lần với những người kiểm duyệt để có thể đưa được một vài nội dung tiến bộ vào trong bộ sách ấy. Ông đã cố lược bỏ tất cả những phần chính trị cộng sản ngu ngốc nhất trong những cuốn sách giáo khoa – trong khả năng có thể – nhưng đồng thời cũng phải giữ lại một vài thứ mà nhà cầm quyền ép buộc.

Tôi biết ông cũng cô đơn vô cùng khi đối diện với những ý kiến phê bình về sự bất toàn ấy. Và tôi biết những người đang muốn ngăn cản bộ sách của ông, cũng như những nhà kiểm duyệt cũng vui mừng khi thấy ông cô đơn như vậy.

Cô đơn nhưng ông không dừng lại. Thầy giáo Phạm Toàn lấy dùng hết tất cả những năng lực cuối cùng của cỗ máy thời gian, được Thượng đế gắn tặng trong con người của ông, để phụng sự con người và đất nước Việt Nam như một người yêu nước phụng sự với niềm hy vọng, vì hiểu rõ giáo dục cộng sản là gì, và một tương lai không cộng sản sẽ là gì. Thậm chí ông đã thầm lặng phụng sự trong niềm hy vọng rất đỗi cô đơn ấy của riêng mình.

Tôi nhớ cái bắt tay không còn khỏe của ông. Tôi nhớ nụ cười của các bậc nguyên lão như của bác Phạm Toàn, bác Vũ Sinh Hiên…trên đất nước này. Sự nhọc nhằn của họ đi qua thời gian, chứng kiến và thầm lặng của kẻ gieo hạt vĩ đại mà không có bất kỳ một sức mạnh nào của những kẻ độc tài có thể khuất phục được họ.

Tôi đã sống đủ để chứng kiến có nhiều con người như vậy ra đi trên đất nước này, tôi cũng đã chứng kiến rất nhiều điều ước mơ dang dở về một dân tộc Việt luôn khẳng định mình là không chấp nhận sống hèn, sống tồi.

Và tôi cũng đã nuôi dưỡng những hạt mầm hy vọng, như bác Phạm Toàn đặt xuống cho tôi và nhiều người khác, cho đến lúc tôi không sức để giữ được nữa trong tay, và trao lại cho thế hệ mới. Tôi cũng tin rằng như hạt mầm đó, dù hôm nay chỉ là cây con, chưa thể trở thành cổ thụ, nhưng vẫn luôn được nhân giống và gieo ra trên khắp đất nước đầy oan trái này.

Đất nước Việt, con người Việt vẫn luôn lạc quan và hy vọng nên đã đi qua rất nhiều những triều đại hung ác và tàn bạo. Lịch sử đã ghi chép vậy.

Tôi tin là bác Phạm Toàn sẽ vui khi nghĩ đến điều này.

Hẹn gặp lại bác, cùng những ai đã sống và chết vì mang ơn nợ quê hương và dân tộc.

Cái ác hợp pháp

Trong một tweet của Hoàng Chí Phong gần đây, anh gửi lên một tấm ảnh về lực lượng trấn áp mặc áo đen, có chỉ dấu riêng. Đây là lực lượng bị nhiều người Hồng Kông thắc mắc vì đó là những người đánh đập người biểu tình tháng 6 năm 2019, hết sức tàn bạo. Đánh đến mức mà cảnh sát áo xanh quen thuộc của Hồng Kông phải chạy đến can.

Tấm ảnh trên twitter của Hoàng Chí Phong, cho thấy nhân vật trấn áp nở nụ cười khoái trá. Nó kỳ lạ và khác biệt với hàng trăm ngàn người biểu tình đang xao xuyến trước tương lai mơ hồ của họ.

“Loại người gì mà chĩa vũ khí vào dân chúng mà cười như vậy?”, Hoàng Chí Phong đặt một câu hỏi, có vẻ ngạc nhiên, và pha lẫn sự tức giận.

Nhưng câu hỏi đó, không phải chỉ người Hồng Kông biết, mà thậm chí những người Việt Nam cách một bờ đại dương, cũng biết. Nụ cười đó quen thuộc lắm. Nụ cười thỏa mãn của cái ác hợp pháp. Nụ cười có hình dáng con người, nhưng thật ra, đó là một giống loài khác.

Nụ cười đó, nhắc nhiều người Việt Nam nhớ những ngày tháng họ xuống đường đòi một môi trường trong lành, đòi một chính sách của lòng dân, đòi kẻ thù xâm chiếm quê hương phải biết rõ sự căm hờn đang dồn nén… thì cũng là lúc những lực lượng đàn áp cũng xuất hiện các nụ cười như vậy. Những kẻ cầm bộ đàm oai phong trong trận càn với quân thù, những nhân vật ngồi quan sát… họ có chung một nụ cười ấy, của cái ác hợp pháp.

Ở công viên Tao Đàn, mùa hè năm 2018. Có những người rất trẻ, họ cũng cười như vậy và đánh đến nôn ra máu, đánh đến hôn mê những có tuổi như chị, như mẹ, như anh của họ. Những trận đòn thay phiên và hả hê thú tính ấy, như muốn chứng minh rằng cái ác hợp pháp, hay cái ác mặc áo lý tưởng ấy chính là đỉnh cao của cách mạng.

Những người bạn trẻ ở Hồng Kông cũng góp bình luận của mình vào tweet của Hoàng Chí Phong bằng những đoạn video quay được các lực lượng lạ lùng ấy rượt đuổi, và khi bắt được một ai đó thì tất cả bu bám và đánh bằng dùi cui không hề thương xót. Ngăn cản một cuộc biểu tình có vẽ như là chuyện phụ, nhưng thỏa mãn thú tính, mới là chuyện chính.

Năm 2015, ông Nguyễn Văn Lía, một nguyên lão của đạo Hòa Hảo Thuần Túy khi đi dự lễ tưởng niệm thầy vắng mặt ở An Giang. Ông bị chận ở một ngã ba đường vắng. Nơi đó nhiều đệ tử của Hòa Hảo đi dự lễ đã bị đánh và nằm quằn quại trên đường. Viên công an chỉ huy nói ông phải quay lại, nếu không sẽ bị đánh như vậy. Thấy mình tuổi cao sức yếu, và cũng không thể vượt qua được hàng hàng lớp lớp công an hung hăng đó, ông Lía quay về, nhưng đi chưa được mười bước, chính viên công an đó đã xông lại đạp ông ngã chúi xuống mương lộ. Đạp xong, viên công an ấy cười.

Tháng 6 năm 2018, Chánh trị sự Hứa Phi, nguyên lão của Đạo Cao Đài Chơn Truyền ở Lâm Đồng, vào chiều tối khi nghe có người gõ cửa tìm, ông ra đón thì hơn chục người của nhà cầm quyền đạp cửa xông vào đánh đập ông đến bất tỉnh. Những người đó thay phiên lấy kéo, dao cạo… cắt râu và cắt tóc của ông, và cười.

Năm 2019, nhà báo tự do Thư Lê đột nhiên bị công an tỉnh Đồng Nai bắt giữ khi cô đang ở Tây Ninh, vu khống cô vượt biên giới. Những công an viên vây quanh, tra vấn, cho lột đồ khám xét. Viên công an ở Đồng Nai cợt nhã ve vuốt cô, khi bị phản ứng trừng mắt đe dọa. Sau đó tài sản cá nhân của cô nhà báo tự do nghèo khó bị cướp sạch. Viên công an Đồng Nai khi rời khỏi phòng thẩm vấn, nhìn cô và cười.

Cũng như gương mặt cười của tay đặc vụ Trung Quốc được cử sang Hồng Kông để đánh đập, để vui niềm vui dã thú… những nụ cười ấy cũng xuất hiện ở Việt Nam. Và tất cả, chắc chắn đều phải có chung một cảm giác rất đặc biệt về cái ác hợp pháp. Họ – dù khác quê hương và tiếng nói, ắt cũng đều cảm thấy chung một sự khác biệt với con người.

Trong Animal Farm của  George Orwell, những con heo nhỏ bị bắt đi. Được dạy và sống theo một lý tưởng mới, khi quay lại, chúng là sức mạnh và nụ cười của kẻ ác cầm quyền. Vẫn có hình dáng là heo, nhưng chúng đã là một thứ súc sanh khác.

Những cái ác hợp pháp vẫn xuất hiện ở Việt Nam, khắp nơi. Từ sau các chấn song nhà tù ở những vùng khắc nghiệt nhất, cho đến tiếng xua đuổi tại vườn rau Lộc Hưng, hay, hay tiếng máy xúc ở chùa Liên Trì. Trong câu chuyệ kể về vụ cướp đất của dân tại Thủ Thiêm, những người có nụ cười ấy cũng đã hỏi người dân rằng “muốn đất hay muốn mất mạng?”.

Sẽ rất vô nghĩa khi chúng ta bàn về luật pháp, nói về tòa án… hay nói về tương lai của một dân tộc, khi cái ác hợp pháp đang là điều hiển nhiên được hậu thuẫn từ nhà cầm quyền. Câu chuyện Hồng Kông là một ví dụ rõ – những lời kêu gọi yêu thương, chia sẻ và góp sức cho chính quyền xây dựng đất nước… sẽ luôn chỉ là phần biếm họa của sách giáo khoa lịch sử, về triều đại hợp pháp của cái ác.